GO-GN Research Review.
Open Pedagogy
Năng lực hiểu biết dữ liệu mang tính phê phán trong giáo dục đại học: giảng dạy và nghiên cứu về đạo đức và công bằng dữ liệu
Atenas, J., Haveman, L., Kuhn, C. và Timmermann, C. (2022) Năng lực hiểu biết dữ liệu mang tính phê phán trong giáo dục đại học: giảng dạy và nghiên cứu về đạo đức và công bằng dữ liệu. Trong: Văn hóa dữ liệu trong giáo dục đại học. Springer. http://oars.uos.ac.uk/2348/
Được Kate Huth (Đại học Griffith, Úc) đánh giá
Các tác giả của chương này nhanh chóng giới thiệu cho người đọc ý tưởng rằng thế giới hiện đại của giáo dục đại học chứa rất nhiều dữ liệu, hơn nữa, việc xử lý và hiểu dữ liệu này đòi hỏi nhiều kỹ năng khác nhau. Mục đích đã nêu của họ là giải quyết một số câu hỏi về cách thức đạo đức và việc sử dụng đạo đức như một phương pháp nghiên cứu có thể giải quyết sự thiên vị trong dữ liệu, trong việc thu thập, phân tích và diễn giải dữ liệu, cũng như trong cách sử dụng dữ liệu. Họ kêu gọi các nhà giáo dục và nhà nghiên cứu cùng nhau khám phá các vấn đề về năng lực hiểu biết dữ liệu bằng cách sử dụng các hoạt động dựa trên nghiên cứu từ góc độ công bằng xã hội.
Một phần cách họ thực hiện điều này là bằng cách sử dụng nghiên cứu trường hợp về một khóa học được tổ chức tại Uruguay, vốn là một phần của nghiên cứu lớn hơn. Tuy nhiên, phần lớn chương này cố gắng giới thiệu sự hiểu biết sâu sắc hơn về dữ liệu, sự thiên vị trong dữ liệu, năng lực hiểu biết dữ liệu và đạo đức như một phương pháp nghiên cứu.
Phần thảo luận về nghiên cứu trường hợp được viết tốt và dễ hiểu. Nghiên cứu tập trung vào một khóa học cụ thể được vận hành trực tuyến trong 2 học kỳ. Khóa học yêu cầu sinh viên suy ngẫm về chính trị của dữ liệu và sự giao thoa của các khía cạnh xã hội khác nhau (chủng tộc, giới tính, dân tộc).
Dự án được thiết kế bằng cách sử dụng mô hình học tập dựa trên nghiên cứu. Những người tham gia khóa học phải xác định một vấn đề liên quan đến dữ liệu một cách phê phán và đề xuất giải pháp dựa trên nội dung đã học trong khóa học. Phản hồi tích cực đã nhận được từ những người tham gia dựa trên nội dung, tài nguyên, các nghiên cứu trường hợp thực tiễn, các hoạt động phản tư và các hoạt động có thể được áp dụng vào lớp học.
Phần này ủng hộ các lập luận do các tác giả đưa ra và cung cấp một số hiểu biết về cách sử dụng thành công các hình thức Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) khác nhau trong nhiều bối cảnh.
Ý tưởng lớn nhất và nhất quán nhất mà các tác giả đưa ra là dữ liệu không nên được coi là vô hại. Họ xem dữ liệu như một thực thể sống – nó không tĩnh. Ngay cả khi được quan sát, nó cũng thay đổi. Dữ liệu được thu thập nhưng sau đó được phân tích, diễn giải và truyền đạt. Tại mỗi điểm này, các tác giả cho thấy, dữ liệu được xây dựng.
Có rất nhiều thông tin hơn trong phần dẫn đến nghiên cứu trường hợp, vốn là cơ sở của nghiên cứu, tuy nhiên những gì đã có khiến tôi cảm thấy chưa thỏa mãn. Thông tin có vẻ không đầy đủ vì một số ý tưởng “quan trọng” chưa được giải thích đầy đủ.
Các tác giả muốn người đọc có cách tiếp cận phê phán đối với năng lực hiểu biết dữ liệu. Họ muốn người học và nhà giáo dục xem xét các câu hỏi về công bằng xã hội và các giá trị đa nguyên trong khi sử dụng dữ liệu để hướng tới việc giảm thiểu các bất công xã hội phổ biến. Họ muốn các nhà nghiên cứu sử dụng đạo đức không phải như một hướng dẫn mà như một phương pháp nghiên cứu. Tất cả những điều này họ đều nói với chúng ta.
Điều không được nói ra, hoặc không được diễn đạt theo cách mà tôi có thể hiểu được, là ý nghĩa của một số điều họ đề cập. Các tác giả lên án khái niệm "hiểu biết thông thường" (commonsensical understandings) nhưng lại dựa vào chúng cho những phần quan trọng trong thông điệp của chính họ. Thuật ngữ quan trọng được sử dụng thường xuyên nhưng không bao giờ được định nghĩa, thay vào đó các tác giả dựa vào sự hiểu biết thông thường, là công bằng xã hội. Vì khái niệm này tạo thành nền tảng lập luận của họ cùng với tư duy phản biện (được định nghĩa rất rõ ràng) và đạo đức dữ liệu (được định nghĩa rất rõ ràng), nên một định nghĩa về ý nghĩa của thuật ngữ này trong ngữ cảnh này sẽ củng cố lập luận của họ.
Lý do của phương pháp sư phạm mở: Khái niệm đặt giá trị làm trọng tâm để nâng cao thực hành giảng dạy
Werth, E., Williams, K. (2022). Lý do của phương pháp sư phạm mở: Khái niệm đặt giá trị làm trọng tâm để nâng cao thực hành giảng dạy. Môi trường học tập thông minh 9, 10. https://doi.org/10.1186/s40561-022-00191-0
Được Emily Helton (Đại học West Virginia, Hoa Kỳ) đánh giá
Bài báo này nhằm mục đích giải quyết khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn trong phương pháp sư phạm mở bằng cách kết nối những người hướng dẫn chưa quen thuộc với các kỹ thuật mở phù hợp với các giá trị hiện có của họ, cụ thể là: tính minh bạch, việc chia sẻ, học tập cá nhân hóa, trao quyền cho người học, phá vỡ các cấu trúc quyền lực truyền thống và xây dựng kiến thức cộng tác. Bài báo bao gồm một bảng và hình một đồ họa cho thấy các chuyên gia về lĩnh vực này đã đánh giá sự hiện diện của từng giá trị này trong bốn khía cạnh của phương pháp sư phạm mở như thế nào: thiết kế mở, nội dung mở, đánh giá mở và phương pháp sư phạm được OER xúc tác (OER-enabled Pedagogy) (với khía cạnh sau nhận được điểm cao ở tất cả các giá trị). Họ đặt tên cho khung này là Khung Giá trị Ưu tiên - VFF (Values-First Framework). Lập luận của họ là bằng cách bắt đầu từ động lực của một người hướng dẫn thiếu kinh nghiệm, VFF sẽ giúp dễ dàng tìm ra những điểm khởi đầu cho phương pháp sư phạm mở.
Trong việc phát triển các giá trị, các tác giả ủng hộ cách tiếp cận diễn giải học, trích dẫn Bách khoa toàn thư Triết học Stanford (Zalta, 2022). Vì không thực sự quen thuộc với diễn giải học, tôi sẽ đánh giá cao một mô tả chi tiết hơn, tuy nhiên bảng mà họ đề cập (Bảng 1) bao gồm một danh sách rất hữu ích các tài liệu tham khảo và thuật ngữ khái niệm liên quan đến mỗi trong sáu giá trị của họ. Đặc biệt, các thuật ngữ khái niệm có thể hữu ích trong việc thực hiện tìm kiếm tài liệu.
Dữ liệu của họ bao gồm một cuộc khảo sát điện tử được thu thập từ chín chuyên gia về lĩnh vực này - SME (Subject Matter Experts). Họ đã chọn 12 cá nhân đã xuất bản các bài báo trên các tạp chí được bình duyệt ngang hàng về phương pháp sư phạm mở, và tất cả trừ ba người đều đồng ý tham gia, đại diện cho Hoa Kỳ, Canada, Nam Mỹ, Vương quốc Anh và Trung Đông (trang 13). Họ yêu cầu các chuyên gia chọn giá trị nào trong sáu giá trị thể hiện rõ trong mỗi bốn khía cạnh của phương pháp sư phạm mở. Không có chuyên gia nào yêu cầu định nghĩa cho bốn khía cạnh. Họ báo cáo những kết quả này trong một bảng kiểu bản đồ nhiệt, trong đó bất kỳ sự kết hợp giá trị-khía cạnh nào nhận được hơn sáu phiếu bầu đều được mã hóa màu. Các giá trị dao động từ bốn đến chín, với chín cho thấy sự đồng thuận từ tất cả các chuyên gia (xuất hiện sáu lần trong số 24 khả năng).
Ngôn ngữ xuyên suốt rất rõ ràng, và tôi thấy đây là một tác phẩm rất dễ tiếp cận. Phần lớn nội dung tổng quan tài liệu tập trung vào việc thiếu các định nghĩa rõ ràng hoặc sự đồng thuận về định nghĩa trong phạm vi rộng lớn về cách sử dụng Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) trong môi trường giáo dục, trước khi đi đến kết luận rằng các thực hành Giáo dục Mở của Nascimbeni và Burgos (2016) là nền tảng cho công trình của họ. Có một danh mục tài liệu tham khảo dài bao gồm phần lớn các nghiên cứu về sư phạm mở và các khái niệm liên quan.
Nhìn chung, tôi thích ý tưởng về một khuôn khổ giúp các nhà giáo dục quan tâm đến, nhưng chưa triển khai, sư phạm mở kết nối với những địa điểm cụ thể để bắt đầu. Bảng cuối cùng trong bài viết (Bảng 4) đưa ra một vài trích dẫn cho mỗi trong bốn khía cạnh như một điểm khởi đầu để các nhà giáo dục bắt đầu. Có lẽ, họ sẽ đọc bài viết, xác định các giá trị của mình, sau đó tìm hiểu thêm các trích dẫn đó. Tôi có thể thấy điều này được chia sẻ với các đồng nghiệp bày tỏ sự quan tâm đến sư phạm mở.
Dạy tiếng Đức như một ngoại ngữ bằng Tài nguyên Giáo dục Mở (OER): Triển khai và Kinh nghiệm từ một trường đại học Indonesia
Wijayati, P. H., Kharis, M., Hidayat, E., Ardiyani, D. K., Ebner, M., & Schön, S. (2022). Dạy tiếng Đức như một ngoại ngữ bằng Tài nguyên Giáo dục Mở (OER): Triển khai và Kinh nghiệm từ một trường đại học Indonesia. Tạp chí Quốc tế về Công nghệ Mới nổi trong Học tập (iJET), 17(04), trang 225–238. https://doi.org/10.3991/ijet.v17i04.23225
Được Paula Cardoso (Instituto Politécnico de Leiria, Bồ Đào Nha) đánh giá
Bài báo này là một nỗ lực thú vị để mô tả việc sử dụng OER ở Indonesia, vì không có nhiều nghiên cứu trong bối cảnh cụ thể này, đặc biệt là khi nói đến việc học ngôn ngữ. Bài báo này mô tả việc triển khai và sử dụng Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) trong bối cảnh dạy tiếng Đức như một ngoại ngữ tại một trường đại học ở Indonesia. Tuy nhiên, bài báo còn tồn tại một số điểm yếu, cả về nghiên cứu và phương pháp liên quan cũng như các kết luận được rút ra.
Một mặt, bài báo thiếu tài liệu tham khảo đối với một số vấn đề cụ thể liên quan đến OER. Ví dụ, mặc dù các tác giả thừa nhận rằng “OER dường như chưa được sử dụng rộng rãi trong việc học ngôn ngữ”, nhưng cần thêm tài liệu tham khảo về việc sử dụng này để bài báo mạnh mẽ hơn cả về giả định lý thuyết lẫn phương pháp được sử dụng. Ngoài ra, thuật ngữ không phải lúc nào cũng rõ ràng và cần được phát triển thêm, như trong cụm từ “OER thuộc loại MOOC”.
Mặt khác, phương pháp luận không xác định rõ nguồn OER (các trang Internet được đề cập như một tài liệu tham khảo chung). Các tiêu chí để tìm và lựa chọn OER phù hợp không được mô tả, cũng như việc triển khai không rõ ràng, vì không thể hiểu được sinh viên cần làm gì với các tài liệu OER hoặc cách chúng được tích hợp. Hơn nữa, không rõ ràng ý của các tác giả khi họ nói rằng các tài liệu khác đã được sử dụng, không phải là OER, nhưng được truy cập miễn phí. Lợi ích đối với giảng viên chưa thực sự rõ ràng, còn đối với sinh viên thì hoàn toàn không được đề cập. Để có một bài luận sâu sắc hơn về chủ đề này, cần phải nghiên cứu kỹ hơn nữa những lợi ích của tài nguyên giáo dục mở (OER) đối với việc học ngôn ngữ.
Ban đầu, các tác giả cho rằng có sự thiếu hụt tài nguyên giáo dục mở (OER) cho việc học ngôn ngữ và xác định đây là trở ngại lớn đối với việc sử dụng OER. Tuy nhiên, trong phần thảo luận của bài báo, các tác giả lại đề cập rằng họ “đã phát hiện ra rằng có rất nhiều OER dành cho việc học tiếng Đức trên Internet”.
Về phần kết quả, các tác giả cho rằng kết quả phù hợp với các nghiên cứu khác về vấn đề thiếu chất lượng của OER, nhưng xuyên suốt nghiên cứu, yếu tố này lại không được đề cập đến. Tuy nhiên, họ có đề cập rằng, mặc dù tìm được OER, giảng viên vẫn phải tự điều chỉnh chúng cho phù hợp với nhu cầu của mình, và điều này được coi là một điểm yếu của OER, thay vì một trong những lợi ích của nó, đó là khả năng phối lại và tái sử dụng tài liệu.
Các mục tiêu nghiên cứu cũng có thể được điều chỉnh phù hợp hơn với nghiên cứu hiệu quả, để bao gồm cả nhận thức của giảng viên về việc sử dụng OER.
Có một tài liệu đính kèm thú vị liệt kê tất cả các OER và nguồn gốc của chúng, đồng thời cũng được chia sẻ như một OER, do đó nó đóng góp hữu ích cho việc giải quyết sự thiếu hụt tài liệu trong lĩnh vực này.
Nhận thức của người học về sự chuyển đổi sang môi trường học trực tuyến do giảng viên hướng dẫn: Các yếu tố thuận lợi và rào cản trong đại dịch COVID-19
Kamble, A., Gauba, R., Desai, S., & Golhar, D. (2021). Nhận thức của người học về sự chuyển đổi sang môi trường học trực tuyến do giảng viên hướng dẫn: Các yếu tố thuận lợi và rào cản trong đại dịch COVID-19. Tạp chí quốc tế về nghiên cứu học tập mở và phân tán, 22(1), 199-215. https://doi.org/10.19173/irrodl.v22i1.4971
Được Anuradha Peramunugamage đánh giá
Mục đích của nghiên cứu này là để xác định phản ứng của người học theo hình thức học trực tiếp truyền thống tại Đại học Savitribai Phule Pune, Ấn Độ, đối với sự chuyển đổi đột ngột sang học trực tuyến vào tháng 3 năm 2020 do đại dịch, cũng như ảnh hưởng của nó đến việc học tập của họ. Trong bối cảnh đại dịch COVID-19, các tác giả đã nghiên cứu nhận thức của người học truyền thống về học trực tuyến và sự chấp nhận hình thức này ở Ấn Độ. Nghiên cứu đã điều tra hiện tượng này thông qua phương pháp nghiên cứu định tính theo trường hợp. Nghiên cứu đã xem xét sự thích nghi của người học với việc học trực tuyến trong thời gian đại dịch COVID-19 và việc đóng cửa trường học trên toàn quốc. Những người tham gia nghiên cứu là sinh viên chương trình thạc sĩ quản trị kinh doanh tại một trường kinh doanh trực thuộc Đại học Savitribai Phule Pune. Do đại dịch, trường kinh doanh đã tạm ngừng giảng dạy trên lớp và thay vào đó cung cấp các tài liệu khóa học còn lại thông qua các môi trường học tập trực tuyến - OLE (Open Learning Environments) như Microsoft Teams. Các cuộc phỏng vấn với người tham gia diễn ra vào giữa tháng 4 năm 2020, khi kết thúc học kỳ thứ hai. Nghiên cứu có 35 sinh viên tham gia. Microsoft Teams cho phép 35 sinh viên tham gia phỏng vấn có cấu trúc. Tám câu hỏi mở đã được đặt ra cho những người tham gia về quá trình chuyển đổi sang OLE và quan điểm của họ về việc dạy và học trong môi trường có sự hỗ trợ của công nghệ. Ngoài ra, các câu hỏi phỏng vấn đã được một hội đồng chuyên gia của trường đại học (ba giảng viên và hai sinh viên) xác nhận. Quá trình mã hóa ban đầu, được thực hiện bằng phần mềm NVivo, đã xác định các mẫu, danh mục và mối liên hệ giữa các mã. Dữ liệu từ các cuộc phỏng vấn đã tiết lộ mười lăm danh mục khác nhau. Các danh mục này đã hé lộ năm chủ đề chính.
Nhà nghiên cứu đã đề cập rằng những người tham gia nhấn mạnh tầm quan trọng của việc có máy tính và truy cập Internet để tham gia các khóa học trực tuyến. Rõ ràng là giáo dục trực tuyến đòi hỏi phải có kết nối Internet không giới hạn thông qua máy tính để bàn, máy tính bảng, điện thoại thông minh hoặc máy tính xách tay. Những người tham gia nghiên cứu (n=32) cho biết kết nối Internet là một trở ngại đáng kể đối với việc học trực tuyến. Trong khi một số người tham gia tin rằng học trực tuyến có lợi hơn học truyền thống và cải thiện khả năng tập trung của họ, những người khác lại cho rằng nó không hiệu quả. Những phát hiện này phổ biến ở tất cả các nước đang phát triển. Mặc dù OLE có một số lợi ích so với phương pháp giảng dạy truyền thống trong lớp học, nhưng trong nghiên cứu này, một số người tham gia đã chỉ trích OLE vì thiếu các trao đổi trực tiếp với giáo viên và sự làm rõ vấn đề. Theo một số người tham gia, các buổi học trở thành giao tiếp một chiều giữa giảng viên và người hướng dẫn, và tài liệu giảng dạy được truyền đạt một cách không hiệu quả. Ngoài ra, người tham gia cho biết sinh viên gặp khó khăn trong việc duy trì sự tập trung trong lớp do bị phân tâm, các khóa học về số học và thực hành khó nắm bắt trực tuyến và giáo viên thiếu quyền kiểm soát trong môi trường trực tuyến. Hơn nữa, nghiên cứu đã chỉ ra rằng, học trực tuyến phù hợp nhất với các khóa học lý thuyết hơn là các khóa học thực hành liên quan đến các khái niệm số học. Người học nhất trí rằng yếu tố quan trọng nhất là sự vắng mặt về mặt thể chất của giảng viên. Người tham gia nhận thấy sự thiếu tương tác giữa người học và giảng viên trong môi trường học tập trực tuyến (OLE). Khoảng cách ảnh hưởng đến sự tham gia của sinh viên, dẫn đến việc chỉ có sự tương tác một chiều giữa giảng viên và học viên. Những phát hiện này cần được hoàn thiện sau khi phân tích các hoạt động khóa học và cơ chế truyền đạt. Như các tác giả đã đề xuất, cần tiến hành thêm các nghiên cứu với quy mô mẫu lớn hơn ở các vùng khác của Ấn Độ, cũng như cần cải thiện việc cung cấp OLE và tăng cường đào tạo về OLE ở các quốc gia đang phát triển như Ấn Độ.
Giáo dục mở là gì? Xác định điểm chung
Tietjen, P., & Asino, T. I. (2021). Giáo dục mở là gì? Xác định điểm chung. Tạp chí quốc tế về nghiên cứu trong học tập mở và phân tán, 22(2), 185-204. https://doi.org/10.19173/irrodl.v22i2.5161
Được Helen DeWaard (Đại học Lakehead, Canada) đánh giá
Trong lĩnh vực giáo dục mở, có những cuộc tranh luận gây tranh cãi và các thuật ngữ có vấn đề cản trở nghiên cứu. Tietjien và Asino (2021) cố gắng làm rõ khái niệm về giáo dục mở vì “một định nghĩa đóng vai trò như một thấu kính hiệu chỉnh để xem xét một hiện tượng” (Tietjien & Asino, 2021, tr. 199). Ngoài ra, các tác giả sử dụng dạng viết tắt OP (Open Pedagogy) để chỉ sư phạm mở, giúp phân biệt khái niệm này với sự nhầm lẫn hiện tại khi sử dụng OEP (Open Educational Practices) cho cả sư phạm mở và thực hành giáo dục mở. Nghiên cứu này là một nỗ lực đáng khen ngợi nhằm mang lại sự gắn kết cần thiết cho các khái niệm đầy thách thức của sư phạm mở.
Việc xem xét kỹ lưỡng các nghiên cứu mà Tietjien và Asino dựa vào để xây dựng khung năm vòng tròn của họ được giới hạn trong khoảng thời gian từ năm 2011, khi giáo dục mở dựa trên web mở rộng sau Báo cáo Sáng kiến Chất lượng Giáo dục Mở - OPAL (Open Educational Quality Initiative) (Andrade và cộng sự, 2011) đến năm 2020. Các tác giả chia khung thời gian này thành hai giai đoạn bằng cách sử dụng năm 2017 làm mốc phân chia vì, như họ giải thích, năm này được chỉ định là Năm của Mở (Year of Open) và hội nghị OER17 đã tạo ra một số lượng đáng kể các bài đăng trên blog về chủ đề sư phạm mở. Mặc dù những năm mốc này là dễ hiểu, nhưng việc tập trung hẹp vào một sự kiện hoặc địa điểm hội nghị duy nhất có thể hạn chế phạm vi của nghiên cứu. Một cái nhìn rộng hơn có thể bao gồm các sự kiện quan trọng khác như Tuyên bố Paris (UNESCO, 2012), Hội nghị Giáo dục Mở (OpenEd17, n.d.), hoặc Hội nghị OEGlobal (OE Global Consortium, n.d.) nơi kỷ niệm mười năm Tuyên bố Giáo dục Mở Cape Town (CPT+10, n.d.). Những sự kiện và tài liệu bổ sung này có thể đã góp phần làm rõ thêm việc tìm kiếm định nghĩa về Sư phạm Mở (OP).
Bài tổng quan nghiên cứu do Tietjien và Asino (2021) thực hiện bao gồm nhiều loại nguồn khác nhau, chẳng hạn như các bài báo được bình duyệt ngang hàng, sách và chương sách, và kỷ yếu hội nghị. Các tác giả mô tả các chiến lược tìm kiếm được sử dụng để xác định 938 tài liệu tham chiếu đến giáo dục mở, sư phạm mở hoặc thực hành giáo dục mở. Con số này tiếp tục được giảm xuống còn 87 bài báo bằng cách loại bỏ các bài trùng lặp và tập trung vào các bài báo cung cấp chi tiết cụ thể để định nghĩa sư phạm mở. Mặc dù việc giảm xuống còn 24 bài báo dựa trên việc đáp ứng các tiêu chí liên quan (Tietjien & Asino, 2021, tr. 188), nhưng các tiêu chí này không được thảo luận rõ ràng. Giá trị gia tăng trong nghiên cứu của Tietjien và Asino (2021) là việc bao gồm các bài đăng trên blog có liên quan xuất hiện từ hội nghị OER17. Mặc dù nhiều tên tác giả bài đăng trên blog có thể quen thuộc với những người trong lĩnh vực giáo dục mở, nhưng hạn chế trong cách tìm kiếm các bài đăng trên blog có liên quan này cần được xem là một hạn chế tiềm tàng. Việc lựa chọn các blogger liên kết với hội nghị OER17 hạn chế những hiểu biết tiềm năng về định nghĩa từ sự đa dạng các tiếng nói. Nhìn chung, quy trình nghiên cứu và kết quả được mô tả tốt, và phân tích cùng các phát hiện cho thấy những hiểu biết thú vị.
Khung năm vòng tròn do Tietjien và Asino (2021) trình bày cung cấp một khái niệm thú vị về OP và dựa trên nghiên cứu. Năm yếu tố này chồng chéo và liên kết với nhau. Các yếu tố này bao gồm sự đa dạng về tiếng nói, tư duy tham gia, việc áp dụng giấy phép mở, mở rộng vượt ra ngoài ranh giới học thuật truyền thống, và nuôi dưỡng sự cộng tác (Tietjien & Asino, 2021). Mặc dù khung này góp phần lớn vào việc làm cho khái niệm OP trở nên mạch lạc hơn bằng cách tăng cường sự rõ ràng và tạo động lực cho nghiên cứu sâu hơn, nhưng vẫn thiếu sự bao gồm rõ ràng về tính phê phán và công bằng xã hội. Với khung năm vòng tròn này, Tietjien và Asino (2021) đã đạt được mục tiêu xác định những điểm chung trong tài liệu, giúp những người khác, đặc biệt là những người mới tham gia lĩnh vực giáo dục mở, hiểu rõ hơn về khái niệm OP và đóng góp vào diễn ngôn mở tập trung vào khái niệm OP này.
Hai câu hỏi quan trọng mà Tietjien và Asino (2021) đặt ra rất đáng chú ý. Thứ nhất, tại sao khoa học học tập lại vắng mặt trong diễn ngôn về sư phạm mở, đặc biệt là mối liên hệ của nó với mạng lưới xây dựng tri thức của Scardamalia và Bereiter (2014). Thứ hai, câu hỏi tại sao “cuộc thảo luận xung quanh thuật ngữ sư phạm liên quan đến tài liệu OP lại im lặng một cách đáng ngại” cho thấy một khoảng trống đáng kể trong nghiên cứu hiện tại. Cả hai câu hỏi đều chỉ ra những lĩnh vực tiềm năng dẫn đến nghiên cứu sâu hơn, và làm cho bài báo này trở nên đáng đọc đối với bất kỳ ai trong lĩnh vực giáo dục mở.
Khám phá nhận thức của sinh viên với tư cách là đồng tác giả của tài liệu khóa học
Werth, E., & Williams, K. (2021). Khám phá nhận thức của sinh viên với tư cách là đồng tác giả của tài liệu khóa học. Open Praxis, 13(1), 53-67. http://dx.doi.org/10.5944/openpraxis.13.1.1187
Được Glenda Cox (Đại học Cape Town, Nam Phi) đánh giá
Các tác giả so sánh kết quả của họ với chỉ hai nghiên cứu khác về sinh viên tham gia vào phương pháp sư phạm được Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) xúc tác (OER-enabled Pedagogy). Cả hai nghiên cứu đó đều được thực hiện tại các cơ sở giáo dục công lập lớn. Do đó, nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm cực kỳ hữu ích về nhận thức và kinh nghiệm của sinh viên. Nghiên cứu này ủng hộ các tuyên bố trước đây về tiềm năng của phương pháp này, nơi sinh viên được thúc đẩy và đạt được các kỹ năng và sự tự tin.
Nghiên cứu này được thực hiện tại một trường đại học tư thục tuyển sinh mở. Các giáo viên đã thiết kế lại một khóa học hội thảo năm nhất để bao gồm phương pháp sư phạm được OER xúc tác. Khóa học có tỷ lệ bỏ học là 40%, vì vậy mục tiêu là thu hút sinh viên. Hơn 50% sinh viên tham gia khóa học đến từ các nhóm thu nhập thấp, do đó một mục đích khác của việc thiết kế lại chương trình là tiết kiệm chi phí cho sinh viên bằng cách cung cấp tài liệu miễn phí.
Sinh viên tham gia vào việc tạo nội dung cho khóa học và nội dung của họ được đưa vào sách điện tử. Sinh viên xác định được khoảng trống kiến thức, nghiên cứu chủ đề và tạo ra một sản phẩm (video hoặc đồ họa thông tin - infographic). Việc này có thể được cá nhân hoặc nhóm thực hiện. Sinh viên nộp đề xuất dự án, bản nháp để được bạn bè đánh giá và bản dự án cuối cùng. Giảng viên hướng dẫn họ từng bước. Khả năng tự chủ của sinh viên được tăng cường nhờ sự hỗ trợ từ giảng viên. Họ cũng được học về Creative Commons và có thể chọn giấy phép riêng của mình cũng như quyết định có muốn được ghi công hay không.
Phương pháp nghiên cứu kết hợp đã được sử dụng. Một cuộc khảo sát đã được tiến hành với tất cả sinh viên trong tuần học cuối cùng, 92 (329) sinh viên đã hoàn thành khảo sát (tỷ lệ phản hồi 28%). Các câu hỏi khảo sát được cung cấp dưới dạng phụ lục, rất hữu ích cho các nhà nghiên cứu khác khi bắt đầu một phương pháp sư phạm được OER xúc tác tương tự. Sau cuộc khảo sát là 12 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc. Về tính hợp lệ, các tác giả thảo luận về sự tham gia của họ trong việc thiết kế lại chương trình giảng dạy và tạo điều kiện đào tạo cho giảng viên. Họ rất cẩn trọng về tính minh bạch và khả năng tự phản tỉnh của mình.
Cuộc khảo sát bao gồm 15 câu hỏi. Sáu câu hỏi trong cuộc khảo sát tập trung vào thái độ của sinh viên đối với phương pháp sư phạm được OER xúc tác này. Khoảng 40% sinh viên rất hào hứng, có động lực, tích cực và tham gia vào chương trình giảng dạy mới của khóa học. Cuộc khảo sát sử dụng thang đo Likert và các câu trả lời trung lập cho các câu hỏi này dao động từ 35-44%. Sinh viên không quan tâm đến việc tên của họ được in trên tài liệu và việc có sẵn tài liệu cho các lớp học trong tương lai.
Ba câu hỏi đo lường xem kỹ năng của sinh viên có được cải thiện ở ba lĩnh vực hay không: hoàn thành dự án kéo dài nhiều tuần, cộng tác và nghiên cứu, và rút ra kết luận. Tỷ lệ phản hồi tích cực dao động từ 44% đến 56,5%. Sinh viên sẵn sàng tham gia một khóa học tương tự khác, mặc dù 38% tỏ ra thờ ơ, kết quả này tương tự với những gì Hilton và cộng sự đã tìm thấy.
Các cuộc phỏng vấn đã cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về lý do tại sao sinh viên lại có động lực và cảm thấy tích cực về phương pháp sư phạm được OER xúc tác. Sinh viên muốn giúp đỡ người khác và vì vậy họ rất vui mừng khi tài nguyên mà họ tạo ra có thể hữu ích trong tương lai. Sinh viên thích sự chủ động và khả năng lựa chọn các chủ đề mà họ thấy thú vị. Sự chủ động này là một lợi thế quan trọng của phương pháp sư phạm mở này và nó phá vỡ sự cân bằng quyền lực trong lớp học, trao cho sinh viên tiếng nói và quyền sở hữu đối với tài liệu giảng dạy.
Khía cạnh trao quyền này phù hợp với lời kêu gọi từ sinh viên toàn cầu về việc phi thực dân hóa chương trình giảng dạy và phù hợp với các nguyên tắc công bằng xã hội.
Câu hỏi nghiên cứu đầu tiên đề cập đến động lực và sự tham gia của sinh viên trong phương pháp sư phạm mở này. Như giả thuyết đã đưa ra, hầu hết sinh viên đều hào hứng và có thái độ tích cực về khóa học. Sự tham gia của họ rất tích cực. Điều này phù hợp với công trình nghiên cứu của các tác giả trước đó (Hilton và cộng sự và Sheu).
Câu hỏi nghiên cứu thứ hai tập trung vào bất kỳ mối lo ngại nào mà sinh viên có thể có về “tính mở” của các bài tập. Như dự đoán, sinh viên rất muốn được ghi nhận nguồn gốc. Các tác giả cho rằng có thể có mối liên hệ giữa việc sử dụng mạng xã hội và sự sẵn lòng chia sẻ của một người. Cần có thêm nghiên cứu trong lĩnh vực này.
Có rất nhiều phản hồi trung lập, liệu đây có phải là xu hướng của sinh viên năm nhất? Các nhà nghiên cứu chỉ có thể biết được nếu hoàn thành thêm nhiều cuộc khảo sát. Cũng có một tỷ lệ nhỏ sinh viên có thái độ tiêu cực và/hoặc thiếu động lực. Một lý do được đưa ra là những sinh viên này cảm thấy các sinh viên khác sẽ không sử dụng tài nguyên của họ trong tương lai. Điều này có thể được kiểm chứng trong những năm tới khi phương pháp sư phạm được OER xúc tác trưởng thành hơn.
Hiểu được trải nghiệm của sinh viên trong việc cùng nhau tạo ra tài liệu là một khía cạnh rất quan trọng đối với nghiên cứu trong tương lai về phương pháp sư phạm mở. Cần có thêm nhiều nghiên cứu như nghiên cứu này tại các cơ sở giáo dục khác nhau với các cấp độ sinh viên khác nhau và các ngành học khác nhau để cải thiện quy trình thiết kế tài liệu do sinh viên cùng tạo ra.
Những khả năng sử dụng, thách thức và tác động của phương pháp sư phạm mở
Baran, E., & AlZoubi, D. (đang xuất bản). Những khả năng sử dụng, thách thức và tác động của phương pháp sư phạm mở: Xem xét tiếng nói của sinh viên. Giáo dục từ xa. 10.1080/01587919.2020.1757409
Được Caroline Kuhn (Đại học Bath Spa, Vương quốc Anh) đánh giá
Bài báo này cố gắng tìm hiểu cách sinh viên hình dung về các thực hành sư phạm mở - OPP (Open Pedagogy Practices) và cách họ nhận thức về những khả năng sử dụng, thách thức và tác động của chúng. Các tác giả cho rằng, sự hiểu biết này rất quan trọng để phát triển các mô hình hoạt động cho sư phạm mở trong thực tiễn giáo dục đại học. Để làm được điều này, các nhà nghiên cứu đã giải quyết hai câu hỏi nghiên cứu, một câu hỏi liên quan trực tiếp đến nhận thức của người tham gia về những khả năng sử dụng và thách thức của sư phạm mở (OP) và câu hỏi còn lại khám phá nhận thức của sinh viên về tác động của thực hành sử phạm mở (OPP) đối với kiến thức và nhận thức của họ về truy cập mở và sự tự chủ của họ.
Nghiên cứu được thiết kế bằng cách sử dụng một nghiên cứu trường hợp định tính toàn diện duy nhất, trong đó 13 sinh viên từ ba cơ sở giáo dục đại học ở Mỹ đã được lựa chọn. Người tham gia không có kinh nghiệm trước đó về các thực hành mở và được yêu cầu tạo ra ba bài tập có thể tái sử dụng khác nhau dưới dạng Tài nguyên Giáo dục Mở (OER): một mô-đun khóa học trực tuyến mở trên Canvas Commons, một chương sách trực tuyến mở trên PressBook và một wikibook. Mục đích của các hoạt động này là thu thập những hiểu biết của sinh viên về kinh nghiệm của họ khi tham gia vào các bài tập sư phạm mở.
Các nhà nghiên cứu đã thu thập dữ liệu bằng cách sử dụng báo cáo phản ánh và phỏng vấn bán cấu trúc, được phân tích thông qua phân tích chủ đề. Kết quả nghiên cứu đã nêu bật những lợi thế và thách thức của sáu thực hành chính của sư phạm mở: quản lý nội dung, phản hồi từ bạn bè, sự tham gia của cộng đồng, phát triển, suy ngẫm và hỗ trợ học tập. Mỗi thực hành này đều được các tác giả nghiên cứu chuyên sâu, tóm tắt nhận thức của người tham gia về từng thực hành. Sử dụng thông tin đó, các tác giả đã tạo ra mô hình “sư phạm mở trong hành động”. Mặc dù mô hình này có tính đến các thực hành được người tham gia xác định, nhưng người đọc không hiểu rõ dữ liệu thực nghiệm đã được chuyển đổi thành mô hình thực hành như thế nào, lý thuyết nào đã được sử dụng để khái quát hóa dữ liệu thành một công cụ mang tính hướng dẫn. Các tác giả khẳng định rằng mô hình này “cung cấp cho giảng viên các thực hành để phát triển kiến thức và nhận thức của sinh viên về truy cập mở và quyền tự chủ của sinh viên trong lớp học”. Tôi tin rằng những phát hiện hữu ích như vậy sẽ có ích hơn nếu các tác giả đưa ra một cái nhìn tổng quan về cách thức hoạt động của mô hình này trong thực tế.
Các tác giả đề xuất rằng cần có thêm nghiên cứu để giải quyết các chiến lược nhằm thúc đẩy sự tham gia phê phán của sinh viên đối với OEP. Có thể hữu ích khi khám phá việc sử dụng mô hình này trong thực tiễn để tạo ra một số hướng dẫn, từ đó có thể bổ sung vào những phát hiện hữu ích như vậy cho lĩnh vực thực hành giáo dục mở. Một thành tích xuất sắc của bài báo này là nó mở ra nhiều hướng nghiên cứu khác nhau trong lĩnh vực này, gợi ý những khả năng khác nhau có thể được khám phá trong sư phạm mở, hỗ trợ các nhà nghiên cứu mới bắt đầu nghiên cứu bất kỳ chủ đề nào được các tác giả đề xuất.
Tiến hóa hướng tới Mở: Một khung cho thiết kế cộng tác các bài tập tái tạo lại được
Katz, Stacy và Van Allen, Jennifer (2020). Tiến hóa hướng tới Mở: Một khung cho thiết kế cộng tác các bài tập tái tạo lại được. CUNY Academic Works. https://academicworks.cuny.edu/le_pubs/306
Được Michael T. Dabrowski (Đại học Athabasca, Canada) đánh giá
Bài báo này là một nỗ lực nhằm chính thức hóa khung thiết kế bài tập tái tạo lại được có tính cộng tác để sử dụng trong các ứng dụng sư phạm. Bài báo bắt đầu với một cái nhìn tổng quan ngắn gọn về các lập luận phản đối bài tập dùng một lần và ủng hộ bài tập tái tạo lại được như được Wiley và Hilton (2018) hình dung. Các tác giả xây dựng khung này dựa trên một bài tập trong lớp học, một trong số đó được phát triển trong chương trình đào tạo giáo viên. Khóa học này khám phá tính linh hoạt được cấp phép cho OER để phối lại, sửa đổi, điều chỉnh hoặc tạo lập nội dung.
Bài báo này không hẳn là một nghiên cứu, mà là một câu chuyện cá nhân và cẩm nang hướng dẫn cho người đọc trên hành trình chuyển đổi từ bài tập dùng một lần sang bài tập tái tạo lại được. Các tác giả nhấn mạnh rằng đây không phải là một khung cứng nhắc, mà là một thực hành phản ánh để thúc đẩy giảng viên, thủ thư và sinh viên hướng tới việc tạo ra nội dung mở có ý nghĩa. Quá trình mà các tác giả tạo ra được ghi lại xuyên suốt với các trích dẫn từ các chuyên gia nổi tiếng về quy trình tạo lập OER để củng cố các lựa chọn quy trình của họ. Trên hết, đây là một nỗ lực nhằm trực quan hóa các thực hành sư phạm mở để những người khác có thể sử dụng khung này khi muốn chuyển đổi từ các phương pháp giáo dục truyền thống hơn, nhấn mạnh sự cần thiết của sự cộng tác giữa giảng viên và thủ thư để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển Tài nguyên Giáo dục Mở (OER).
Đối với nhiều nhà thực hành OEP và những người quen thuộc với công trình của Wiley và Hilton, phần lớn văn bản này chỉ đơn giản là bổ sung cấu trúc chính thức và nhiều từ ngữ hơn cho quá trình chuyển đổi từ bài tập dùng một lần sang bài tập có thể tái sử dụng. Tuy nhiên, đối với bất kỳ ai mới bắt đầu và muốn có người hướng dẫn trên hành trình hướng tới các thực hành mở, văn bản này cung cấp một điểm khởi đầu có cấu trúc và được ghi chép đầy đủ vào lĩnh vực sư phạm mở ngày càng phổ biến. Những suy ngẫm giữa hai tác giả được trình bày để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phản tư, giúp người đọc có thể trực tiếp áp dụng khung này vào nhu cầu trước mắt của họ. Văn bản này cũng đi kèm với các đường liên kết đến các văn bản quan trọng về sư phạm mở có sẵn trên trực tuyến và các phụ lục bao gồm một phiếu đánh giá bài tập OEP của sinh viên và các đường liên kết đến các sản phẩm mẫu do sinh viên tạo ra được chia sẻ với Giấy phép Creative Commons trên trực tuyến.
Trở thành một nhà giáo dục mở: hướng tới một khung ngưỡng mở
Tur, G., Havemann, L., Marsh, D., Keefer, J. M., & Nascimbeni, F. (2020). Trở thành một nhà giáo dục mở: hướng tới một khung ngưỡng mở. Nghiên cứu về Công nghệ Học tập, 28. https://doi.org/10.25304/rlt.v28.2338
Được Helen DeWaard (Đại học Lakehead, Canada) đánh giá
Việc tìm kiếm các đặc điểm và phẩm chất xác định của một nhà giáo dục mở đã thúc đẩy Tur và cộng sự (2020) trình bày “viên kim cương thô” này, một sự kết hợp của hai hướng nghiên cứu khác biệt được đưa đến để trả lời câu hỏi “Nhà giáo dục mở là ai và điều gì làm cho thực hành của họ khác biệt?” Bằng cách kết nối nghiên cứu về các khái niệm ngưỡng (Meyer & Land, 2006) với nghiên cứu nhằm định nghĩa một nhà giáo dục mở (Nascimbeni & Burgos, 2016), các tác giả của bài báo này đưa ra lập luận cho việc nghiên cứu thực nghiệm sâu hơn về “sự chuyển đổi, khó khăn và tính chuyển tiếp liên quan đến việc hình thành bản sắc của một nhà giáo dục mở” (Tur et al., 2020, tr. 11).
Các tác giả cho rằng quan niệm về tính mở trong giáo dục đã chuyển trọng tâm từ thuộc tính của sự vật (tài nguyên giáo dục mở dưới dạng OER), sang các thực hành và quy trình tương tác với OER. Các tác giả cho rằng nghiên cứu vẫn chưa xem xét đầy đủ bản sắc và đặc điểm của những người hướng tới OEP. Bài báo này bổ sung giá trị cho khối lượng nghiên cứu với một góc nhìn độc đáo và khung lý thuyết mà khi được áp dụng vào việc hình thành bản sắc OEP, sẽ khơi gợi những suy nghĩ và hướng đi mới cho nghiên cứu và thực hành. Bằng cách xem xét việc xây dựng bản sắc, như một thành phần của OEP, thông qua lăng kính của các khái niệm ngưỡng, các tác giả đề xuất một mô hình sáng tạo có sức hấp dẫn nhất định. Trong khi lý thuyết về các khái niệm ngưỡng - TC (Threshold Concepts) tập trung vào học tập và nhận thức, bài báo này chuyển trọng tâm sang các “cách thức tư duy, thực hành và tồn tại mang tính xã hội và tổ chức, đóng vai trò báo hiệu tư cách thành viên hoặc thay đổi vị thế trong một cộng đồng thực hành” (Tur et al., 2020, tr. 5).
Ba trong số tám tiêu chí khái niệm ngưỡng được chọn để làm sáng tỏ “hình bóng mờ ảo của một nhà giáo dục mở” (Tur et al., 2020, tr. 6). Chúng bao gồm các tiêu chí liên quan đến sự chuyển đổi, sự khó khăn và sự chuyển tiếp hoặc trạng thái chuyển tiếp. Các tác giả giải thích ngắn gọn sự liên quan của ba tiêu chí của khái niệm ngưỡng (TC) đối với bản sắc của các nhà giáo dục mở. Ngoài ra, sẽ hữu ích nếu các tác giả nêu rõ lý do lựa chọn ba tiêu chí TC và chỉ rõ các định nghĩa như được cung cấp trong nghiên cứu về TC. Meyer & Land (2006) xác định các tiêu chí cho kiến thức về khó khăn như là mang tính nghi lễ, trì trệ, khó hiểu về mặt khái niệm, xa lạ, ngầm định và bao gồm ngôn ngữ khó hiểu. Việc biết những đặc điểm nhận dạng kiến thức khó khăn này sẽ hỗ trợ lập luận của các tác giả rằng các nhà giáo dục mở cần vẽ lại bản đồ khái niệm của họ và bác bỏ những niềm tin đã có trước đây về việc dạy và học. Khi các nhà giáo dục đối mặt với những thời điểm khó khăn để áp dụng, định vị lại hoặc chống lại tính mở trong thực hành của họ, điều này ít liên quan đến phong trào giáo dục mở, như Tur et al. (2020) đã đề xuất, mà liên quan nhiều hơn đến các chuẩn mực thực hành cá nhân và được chấp nhận.
Có những điểm tương đồng tiềm tàng giữa các quan niệm về ngưỡng (TC) được trình bày trong bài viết này với những quan niệm được tìm thấy trong diễn ngôn về năng lực hiểu biết. Ví dụ, khái niệm về bản sắc được định nghĩa bởi Gee (2000) mà các tác giả cùng chia sẻ, liên kết với một nghiên cứu sâu hơn về bản sắc như một quá trình tồn tại, hành động, hiểu biết và trở thành (Gee, 2017). Tuy nhiên, sự thiếu sót nhỏ này chỉ càng làm tăng thêm tiềm năng mở rộng các ý tưởng được khám phá trong bài viết này. Do đó, bài viết này sẽ khuyến khích những người khác nghiên cứu và trình bày các phân tích rõ ràng về kiến thức lý thuyết, kỹ năng kỹ thuật, và thực hành có đạo đức (episteme, phronesis and techne) của các thực hành giáo dục mở, khi chúng liên quan đến các khái niệm ngưỡng. Như vậy, bài viết này hoàn thành mục đích của nó là thúc đẩy diễn ngôn xung quanh việc "trở thành" một nhà giáo dục mở.
Chạy nhanh tới đích: Lợi ích và thách thức của các đợt viết sách nhanh trong cộng tác giữa giảng viên và nghiên cứu sinh về tài nguyên giáo dục mở (OER)
Zapata, G. C. (2020). Chạy nhanh tới đích: Lợi ích và thách thức của các đợt viết sách nhanh trong cộng tác giữa giảng viên và nghiên cứu sinh về tài nguyên giáo dục mở (OER). Tạp chí quốc tế về nghiên cứu học tập mở và phân tán, 21(2), 1-17. https://doi.org/10.19173/irrodl.v21i2.4607
Được Michael T. Dabrowski (Đại học Athabasca, Canada) đánh giá
Bài báo này thuật lại các mục tiêu, quy trình và kinh nghiệm của các nghiên cứu sinh tham gia vào quá trình phát triển tài nguyên giáo dục mở (OER) bằng tiếng Tây Ban Nha theo hình thức viết sách nhanh. Sau phần tổng quan ngắn gọn về các kinh nghiệm viết sách nhanh hiện có, trong đó các chuyên gia học thuật được mời tham gia tạo ra các tài nguyên giáo dục mở (OER), tác giả đã nêu bật những khoảng trống trong các ấn phẩm này. Bài báo này đề cập đến dự án viết sách cấp tốc, mở rộng nghiên cứu hiện có bằng cách sử dụng nghiên cứu sinh và tạo ra một số công cụ để thu thập bằng chứng về hiệu quả của quá trình tạo lập OER (Tài nguyên Giáo dục Mở) này đối với những người tham gia. Bài báo lập luận rằng trải nghiệm của nghiên cứu sinh trong dự án viết sách cấp tốc mang lại lợi ích cả về mặt cá nhân và chuyên môn, điều đã được chứng minh rộng rãi trong các ấn phẩm trước đây, đồng thời nêu bật những thách thức trong việc kết nối các mục tiêu sư phạm, trải nghiệm viết sách cấp tốc và nội dung mở được tạo ra.
Phương pháp luận của nghiên cứu này phù hợp với quy mô mẫu hạn chế. Với sáu nghiên cứu sinh, sẽ rất khó để sử dụng bất kỳ phương pháp luận nào khác ngoài nghiên cứu trường hợp với phân tích dữ liệu phương pháp hỗn hợp. Mặc dù tác giả nêu bật những hạn chế của nghiên cứu và những cách thức có thể làm cho nghiên cứu mạnh mẽ hơn, trường hợp viết sách cấp tốc được ghi chép đầy đủ chi tiết để người đọc có thể hiểu đầy đủ quy trình và nền tảng sư phạm và hậu cần cơ bản đã định hướng dự án. Nghiên cứu này kịp thời, phù hợp và dễ tiếp cận, và mặc dù dự án tập trung vào việc học ngôn ngữ thứ hai, những lợi ích sư phạm được chứng minh cho người tham gia khuyến khích người đọc suy rộng ra các lĩnh vực và trình độ phát triển của riêng họ.
Không đáng ngạc nhiên, tất cả những người tham gia đều báo cáo những trải nghiệm tích cực khi làm việc cộng tác với đồng nghiệp trong một dự án bổ sung cho sở thích chuyên môn của họ. Trên thực tế, nhà nghiên cứu nhấn mạnh đây là lợi ích có tác động lớn nhất do những cơ hội phát triển cá nhân và nghề nghiệp mà sự cộng tác mang lại. Những lợi ích rõ ràng của việc phát triển Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) cho giáo viên tương lai được nêu bật thông qua việc chuyển giao kiến thức giữa các cá nhân, sự thay đổi quan điểm từ sinh viên đi giảng dạy sang giảng viên dạy học sinh, và sự tự tin hơn vào khả năng giảng dạy của họ được thể hiện thông qua việc phát triển OER.
Tác giả dẫn chứng việc không hoàn thành các chương OER được giao trong thời gian quy định là một yếu tố gây thất vọng cho cả trưởng nhóm và người tham gia, và phê bình hình thức của "book sprint" (viết sách nhanh) và những hạn chế vốn có của nó. Có lẽ điều này cho thấy rằng "book sprint" nên là một quy trình và việc tạo ra OER có tính chất lặp đi lặp lại, trái ngược với mô hình xuất bản truyền thống. Luận điểm và kết luận được trình bày rõ ràng và súc tích. Tuy nhiên, việc nhấn mạnh vào cá nhân hóa "tạo OER nhanh" cho những người tham gia để tối đa hóa lợi ích sư phạm dường như cho thấy rằng hình thức lý tưởng của phương pháp luận này khó có thể hoạt động trong môi trường ngày càng bị hạn chế về tài chính của chúng ta.
Bài báo này mở rộng nghiên cứu về giáo dục mở tập trung vào sự cộng tác giữa các giáo sư và chuyển hướng các hoạt động sang các nghiên cứu sinh, chứng minh rõ ràng khả năng đóng góp của những học giả tương lai này vào việc tạo ra Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) một cách có ý nghĩa, cả đối với bản thân họ và cộng đồng toàn cầu.
---------------------------------------------------
Thừa nhận:
Nội dung này được dịch từ tài liệu của các tác giả: Farrow, R. (ed.), Weller, M., Pitt, R., Iniesto, F., Algers, A., Almousa, S., Baas, M., Bentley, P., Bozkurt, A., Butler, W., Cardoso, P., Chtena., N., Cox, G., Czerwonogora, A., Dabrowski, M.T., Derby, R., DeWaard, H., Elias, T., Essmiller, K., Funk, J., Hayman, J., Helton, E., Huth, K., Hutton, S. C., Iyinolakan, O., Johnson, K. R., Jordan, K., Kuhn, C., Lambert, S., Mittelmeier, J., Nagashima, T., Nerantzi, C., O’Reilly, J., Paskevicius, M., Peramunugamage, A., Pete, J., Power, V., Pulker, H., Rabin, E., Rets, I., Roberts, V., Rodés, V., Sousa, L., Spica, E., Vizgirda, V., Vladimirschi, V., & Witthaus, G. (2023). Sổ tay Nghiên cứu Mở của GO-GN.
Mạng lưới Cao học Toàn cầu về Tài nguyên Giáo dục Mở / Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Mở.
https://go-gn.net/gogn_outputs/open-research-handbook/.
Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế.
---------------------------------------------------
VỀ TRANG TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CỦA GO-GN
---------------------------------------------------
Xem thêm:
Tác giả: admin
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn
Trang Web này được thành lập theo Quyết định số 142/QĐ-HH do Chủ tịch Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam – AVU&C (Association of Vietnam Universities and Colleges), GS.TS. Trần Hồng Quân ký ngày 16/09/2019, ngay trước thềm của Hội thảo ‘Xây dựng và khai thác tài nguyên giáo dục mở’ do 5...
Tổng quan Nghiên cứu của GO-GN. Sư phạm Mở
Tổng quan Nghiên cứu của GO-GN. Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) - Lý thuyết
Tổng quan Nghiên cứu của GO-GN. Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) - Tác động
Tổng quan Nghiên cứu của GO-GN. Tài nguyên Giáo dục Mở (OER)
Tổng quan Nghiên cứu của GO-GN. Thực hành Giáo dục Mở
Tổng quan Nghiên cứu của GO-GN. Các hệ sinh thái mở
Tổng quan Nghiên cứu của GO-GN. Khóa học trực tuyến mở đại chúng (MOOCs)
Sổ tay Nghiên cứu Mở của Mạng lưới Cao học Toàn cầu Tài nguyên Giáo dục Mở - GO-GN (Global OER - Graduate Network)
Các bài toàn văn trong năm 2025
Các bài trình chiếu trong năm 2025
Các lớp tập huấn thực hành ‘Khai thác tài nguyên giáo dục mở’ tới hết năm 2025
Tập huấn thực hành ‘Khai thác tài nguyên giáo dục mở’ cho giáo viên phổ thông, bao gồm cả giáo viên tiểu học và mầm non tới hết năm 2025
Các tài liệu dịch sang tiếng Việt tới hết năm 2025
DigComp 3.0: Khung năng lực số châu Âu
Loạt bài về AI và AI Nguồn Mở: Công cụ AI; Dự án AI Nguồn Mở; LLM Nguồn Mở; Kỹ thuật lời nhắc; Tín hiệu CC
Bộ các tài liệu hướng dẫn của UNESCO cho các chính phủ và cơ sở để triển khai Khuyến nghị Tài nguyên Giáo dục Mở
Hướng dẫn thực hành về Giáo dục Mở cho các học giả: Hiện đại hóa giáo dục đại học thông qua các thực hành Giáo dục Mở (dựa trên Khung OpenEdu)
Chứng chỉ Creative Commons cho các nhà giáo dục, thủ thư hàn lâm, và văn hóa mở
Các mô hình bền vững Tài nguyên Giáo dục Mở (TNGDM) - Tổng hợp
ORCID - Quy trình làm việc
Tổng hợp các bài của Nhóm các Nhà cấp vốn Nghiên cứu Mở (ORFG) đã được dịch sang tiếng Việt
Tổng hợp các bài của Liên minh S (cOAlition S) đã được dịch sang tiếng Việt
Europeana - mô hình mẫu về hệ thống liên thông, Dữ liệu Mở (Liên kết) và dữ liệu FAIR của OpenGLAM/Văn hóa Mở
Loạt bài về Khoa học Mở (KHM): Định nghĩa các khái niệm của KHM; Bộ công cụ KHM của UNESCO bản tiếng Việt; Năm KHM và chuyển đổi sang KHM;
‘ĐÁNH DẤU KHÓA HỌC MỞ VÀ KHAM ĐƯỢC: CÁC THỰC HÀNH TỐT NHẤT VÀ CÁC TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH’ - VÀI THÔNG TIN HỮU ÍCH
Khóa học cơ bản về Dữ liệu Mở trong chương trình học tập điện tử trên Cổng Dữ liệu châu Âu
Các thành phần cơ bản trong kế hoạch tổng thể xây dựng chính sách tài nguyên giáo dục mở – OER (Open Educational Resources) - bản toàn văn